Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Câu chuyện nhượng quyền thương hiệu

Bộ Tài chính đã có dự thảo thông tư về định giá thương hiệu đồng ý về nguyên tắc để DN dùng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu đầu tư góp vốn, chính sách mới này hứa hẹn sẽ là sự ra đời của nhiều mô hình doanh nghiệp mới.

Doanh nghiệp Việt Nam có những thương hiệu lớn, Cà phê Trung Nguyên, Vinamilk, Viettel, Mobifone,... đều là những thương hiệu được định giá cao trong nước và trên thế giới. Điều quan trọng là cần cho họ một điểm tựa về cơ chế chính sách và kinh doanh theo nhiều hình thức mới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Theo các nhà kinh tế học, thương hiệu của doanh nghiệp là một trong những tài sản có giá trị quan trọng bậc nhất. Một doanh nghiệp thành đạt là doanh nghiệp có quá trình hình thành và xây dựng thành công thương hiệu uy tín có chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng. Thương hiệu ảnh hưởng đến lựa chọn của người tiêu dùng, của nhân viên, nhà đầu tư và cả các cơ quan công quyền. Trong một thế giới có nhiều lựa chọn, sự ảnh hưởng này là tối quan trọng cho thành công thương mại và tạo ra giá trị cho cổ đông.

Nhiều quốc gia trên thế giới cũng công nhận và cho phép thương hiệu là một loại tài sản có thể đem ra góp vốn kinh doanh, quy đổi thành ngoại tệ để giao dịch. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vấn đề trên hiện chưa được quan tâm đúng mức, bởi thông thường các doanh nghiệp Việt Nam chưa định giá đúng và chính xác loại tài sản vô hình này, cũng như chưa có hệ thống sổ sách, giấy tờ minh bạch rõ ràng.

Ở khía cạnh văn bản luật, dự thảo thông tư trên của Bộ Tài chính nêu rõ các tập đoàn, tổng công ty, DN, tổ chức có giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được nhận, góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu. Các bên góp vốn tự thỏa thuận với nhau về các điều khoản, độc quyền sử dụng nhãn hiệu, quyền kinh doanh dịch vụ, hàng hóa tương ứng để sử dụng nhãn hiệu. Thời hạn góp vốn không vượt quá thời hạn bảo hộ mà pháp luật quy định đối với nhãn hiệu đó. Trong thời hạn góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu, đơn vị có nhãn hiệu sẽ không được phép chuyển nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân khác.

Tuy nhiên, ở trong điều kiện thực tế, có nhiều điểm chính sách còn chưa theo kịp thực tiễn, theo ông Phạm Duy Khương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, thương hiệu mặc dù là tài sản vô hình được tạo từ nội bộ doanh nghiệp nhưng thực tế ở nhiều nơi nhiều chỗ còn chưa được ghi nhận là tài sản vì nhiều lý do như thương hiệu không phải là nguồn lực có thể xác định được, không đánh giá được mức độ đáng tin cậy và doanh nghiệp không kiểm soát được.

Ngoài ra, trước đây Văn phòng Chính phủ cũng đã cho phép thí điểm thực hiện việc góp vốn bằng thương hiệu nhưng về sau lại không thấy văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề trên. Các chuyên gia về định giá thương hiệu thì cho rằng, Nhà nước nên quy định tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn nhất định của việc góp vốn bằng thương hiệu thông qua các văn bản pháp luật chỉ đạo thống nhất ở nhiều bộ ban ngành khác nhau. Vì trước khi dự thảo thông tư trên được thông qua, đã có một thời gian dài cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cuộc hội thảo và kiến nghị đề xuất với Bộ Tài chính thông qua cách đầu tư kinh doanh mới này nhưng chưa được chấp thuận. Lần thông qua này, nếu muốn chính sách trên đi vào cuộc sống cần có sự phối hợp của nhiều ngành chức năng liên quan như: công thương, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, ...

Ngoài ra, việc ban hành thông tư cũng cần có những điều khoản chi tiết cụ thể, tránh tình trạng sơ sài, sửa chữa gây khó khăn cho doanh nghiệp. Cụ thể, nhiều DN góp ý phải đưa vào thêm các quy định như cam kết về tiêu chuẩn, điều kiện sử dụng nhãn hiệu, logo, hình ảnh, kích thước, mẫu biểu trưng, biểu tượng của từng thương hiệu, hay giám sát chặt chẽ việc góp vốn và nhận góp vốn đối với các thương hiệu thuộc sở hữu nhà nước… Nhiều doanh nghiệp cũng có ý kiến cho rằng nếu quy định chung chung rất dễ dẫn đến tình trạng nhập nhèm. Điển hình như tình trạng của tập đoàn Vinashin hiện đang góp vốn bằng thương hiệu ở rất nhiều nơi nhưng không ghi trên giấy tờ mà chỉ thoả thuận miệng. Một kênh đầu tư khác đang nóng hiện nay là chứng khoán cũng chứng kiến nhiều cảnh thương hiệu ảo như trên, nghĩa là có rất nhiều công ty con lấy thương hiệu của công ty mẹ đưa cổ phiếu lên sàn niêm yết nhưng thực chất các thông tin doanh nghiệp rất khó được kiểm soát, bởi các công ty con luôn núp bóng dưới công ty mẹ, điều này khiến nhiều nhà đầu tư khó khăn khi tham gia giao dịch.

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Nhận Dạng Mối Quan Hệ Nhượng Quyền

Nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại cũng mới được đưa vào nội dung của Luật Thương mại sửa đổi.

Trong thời gian sắp tới, các quy định này sẽ là cơ sở pháp lý chính thức tạo lập nên một sân chơi chung cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước khi tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại.

Nhượng quyền thương mại khởi nguồn từ Mỹ và các nước phát triển cách đây 150 năm. Với những ưu điểm nổi trội, hình thức kinh doanh này đã phát triển một cách hết sức nhanh chóng. Tính đến nay, trên thế giới đã có tới hơn ngàn hệ thống nhượng quyền với hành triệu cơ sở kinh doanh đang hoạt động. Chỉ riêng ở Mỹ, hoạt động nhượng quyền đã chiếm tới 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được hơn hàng triệu lao động và bình quân cứ 12 phút lại có 1 franchising mới ra đời. Tuy vậy, dù nói thế nào thì nhượng quyền thương mại vẫn còn là một hình thức kinh doanh hết sức mới mẻ ở Việt Nam.

Hơn thế nữa, duy trì một mối quan hệ tích cực và phát triển giữa doanh nghiệp được nhượng quyền và nhà nhượng quyền là yếu tố quyết định đến sự thành công của việc nhượng quyền thương hiệu.

Giai đoạn đầu tiên của quá trình này là chìa khóa then chốt cho cả hai bên trong việc xây dựng mối quan hệ nhượng quyền. Điều này liên quan đến việc xin được giấy phép từ nhà nhượng quyền thương hiệu, điều cho phép doanh nghiệp được nhượng quyền, kinh doanh dưới nhãn hiệu hoặc tên tuổi thương mại của họ. Những doanh nghiệp được nhượng quyền cũng được huấn luyện lúc ban đầu và được hỗ trợ trong suốt giai đoạn khởi đầu công việc kinh doanh.

Sức hút chủ yếu của một hệ thống nhượng quyền đối với nhà đầu tư đó là một mô hình kinh doanh đã được kiểm chứng, thông qua nhiều năm hoạt động trên thị trường.

Bất cứ ai sắp tham gia vào một hệ thống nhượng quyền nên hiểu rằng hệ thống hoạt động của nhà nhượng quyền đã được chứng minh trước đó và đã đạt được thành công là rất quan trọng, khả năng thành công sẽ được tối đa hóa khi hệ thống đó được tuân thủ.

Những doanh nghiệp được nhượng quyền sẽ có xu hướng kinh doanh trái ngược với những nhà kinh. Những doanh nghiệp được nhượng quyền chuyển năng lượng của họ vào kế hoạch chứ không phải tái phát minh ra một cái mới."

Từ viễn cảnh của những nhà nhượng quyền thương hiệu, sự thiết lập, xây dựng các biện pháp kiểm soát, điều khiển hệ thống là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng của dịch vụ hoặc sản phẩm mà họ đưa ra trên toàn mạng lưới của mình. Điều này cho phép họ bảo vệ thương hiệu và theo đó, làm lợi cho những doanh nghiệp được nhượng quyền trong mạng lưới đó.

Bản chất của mối quan hệ nhượng quyền chính là những yếu tố nhận dạng "thế nào là nhượng quyền thương mại"

Công việc đào tạo nhượng quyền thương hiệu đi xa hơn ý nghĩa của việc "làm kinh doanh như thế nào" bao quát sự cải tiến của quá trình đào tạo phát triển để có thể được nhìn nhận như việc "làm thế nào để kinh doanh tốt hơn."

Nhượng quyền thương hiệu thì sự hỗ trợ là yếu tố chính trong quyết định của ông khi đầu tư vào một doanh nghiệp nhượng quyền.

Sau khi xem xét nhiều sự lựa chọn, một điều rõ ràng là trở thành một doanh nghiệp được nhượng quyền thương hiệu là một quyết định đúng đắn. Bởi vì tất cả những hệ thống hỗ trợ đã theo tôn ti trật tự, người sở hữu những doanh nghiệp này nên thực hiện hết sức mình.

Sự nhận thức rõ bản chất mối quan hệ giữa nhà nhượng quyền thương hiệu và doanh nghiệp được nhượng quyền là điều rất quan trọng đối với cả hai bên để họ tập trung vào xây dựng mối quan hệ này, và tập trung vào công việc của mình hơn là đi tìm hiểu nhượng quyền là gì.

Một điều quan trọng cũng nên nhớ đó là đối với một vài cá nhân, nhượng quyền thương hiệu có thể không phải là một cách thích hợp cho việc kinh doanh.

Bằng cách khám phá chiều sâu bản chất thực sự của mối quan hệ nhượng quyền thương hiệu, những người nghĩ đúng về nhượng quyền thương hiệu sẽ có thể nhận ra lợi ích trọn vẹn mà hệ thống đó mang lại.

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

M&A - Giải pháp cùng phát triển

Cụm từ Mergers and Acquisition (M&A) - mua bán và sáp nhập xem ra vẫn còn khá mới mẻ. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, để tồn tại và phát triển, nhiều doanh nghiệp (DN) Việt Nam đã chọn hình thức này.

Cụm từ Mergers and Acquisition (M&A) - mua bán và sáp nhập xem ra vẫn còn khá mới mẻ. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, để tồn tại và phát triển, nhiều doanh nghiệp (DN) Việt Nam đã chọn hình thức này.

Theo thạc sĩ Đỗ Thanh Năm, Giám đốc Công ty Tư vấn và hỗ trợ chiến lược WIN–WIN, M&A chia làm 3 loại: Loại thứ nhất là mua đứt, bán đoạn. Có nghĩa là sau khi ký hợp đồng lợi ích bên này không liên quan gì đến bên kia, công ty này có thể sở hữu toàn bộ công ty kia (như trường hợp Kinh Đô mua đứt thương hiệu cũng như nhà máy và dây chuyền sản xuất của kem Wall's). Hoặc trường hợp công ty này có thể mua một thương hiệu của công ty kia như việc Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S của Công ty Phương Đông.

Loại thứ 2, bên A sẽ sở hữu một lượng cổ phần đáng kể của bên B để trở thành cổ đông chiến lược của bên B. Theo đó bên mua không chỉ sở hữu về tài chính mà còn hỗ trợ nhất định về việc phát triển của bên bán như trường hợp Công ty cổ phần Đồng Tâm mua 60% cổ phần của sứ Thiên Thanh.

Loại thứ 3, trao đổi với nhau về cổ phiếu để đôi bên cùng có lợi, đây là một sự trao đổi mang tính hợp lực, hợp sức (theo kiểu 1+1>2). Đây là hướng đi chuyên nghiệp trong việc hoạch định chiến lược của từng công ty mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được thông qua việc Công ty cổ phần Kinh Đô miền Bắc (NKC) và Công ty cổ phần KIDO cùng sáp nhập vào KDC (Công ty cổ phần Kinh Đô).

Hoạt động M&A sôi động nhất hiện nay là trong lĩnh vực ngân hàng. Vì theo quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP, đến cuối năm 2010, các tổ chức tín dụng phải có vốn điều lệ đạt mức 3.000 tỷ đồng. Theo đó, đến cuối tháng 6-2010, tất cả các tổ chức tín dụng phải trình Ngân hàng Nhà nước hồ sơ đề nghị tăng vốn, nếu không sẽ không được mở rộng mạng lưới, công ty, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch…

Trước sức ép đó, nhiều ngân hàng nhỏ hiện nay đang tìm mọi cách như phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, kêu gọi đầu tư thậm chí M&A để đạt được số vốn tối thiểu theo quy định mới.

Tuy nhiên, không phải dễ khi chọn giải pháp M&A trong thời điểm này, vì hiện nay kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều gặp nhiều khó khăn. Sau khủng hoảng, nợ công ở các quốc gia vẫn còn nhiều, việc bán cổ phần hoặc tìm các đối tác là các tổ chức nước ngoài không dễ dàng. Tuy nhiên không phải vì thế mà M&A kém phần sôi động.

Từ năm 2009 đến nay vẫn có nhiều thương vụ sáp nhập và mua bán thành công diễn ra giữa các DN và ngân hàng cũng như giữa ngân hàng nước ngoài và ngân hàng trong nước như Petro Vietnam & Oceanbank, Tín Nghĩa và Đại Á, BNP Paribas và Phương Đông, Maybank và An Bình.

Trong đó, Maybank (ngân hàng hàng đầu của Malaysia) đã ký hợp đồng mua 15% cổ phần của Ngân hàng An Bình (Việt Nam) với giá 2.200 tỷ đồng (tương tương 50.000 đồng/cổ phiếu). Trong hợp đồng M&A này, theo nhận định của các chuyên gia, Maybank và An Bình đều có lợi để cùng tồn tại và phát triển.

Sau cuộc sáp nhập với Petro Vietnam, từ một ngân hàng nhỏ, hiện Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank) đang có tiềm lực mạnh khi cổ đông chiến lược là Petro Vietnam. để tồn tại và phát triển, Ngân hàng Phương Đông (OCB) cũng chọn phương án M&A bằng cách bán 10% cổ phần cho Ngân hàng BNP Paribas (Pháp) giá khoảng 120 tỷ đồng, với mong muốn sẽ nâng cao khả năng tài chính, đồng thời tạo cơ hội để cung cấp và bán chéo các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng; tiếp nhận và học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực từ BNP Paribas.

Được và mất từ M&A

Mua bán sáp nhập là giải pháp tất yếu của các ngân hàng nhỏ không hội đủ vốn pháp định.

M&A giữa các DN là sự lựa chọn tất yếu để cả bên mua và bên bán tồn tại và phát triển, nhất là trong thời điểm hậu khủng hoảng. Theo các chuyên gia tài chính, mục tiêu và bản chất của M&A là "Một cộng một bằng 3", điều mà các nhà kinh tế thường gọi là tính cộng hưởng.

Có thể thấy, sau khi sáp nhập bộ máy quản lý sẽ tinh gọn, giảm chi phí và tăng vị thế trên thương trường. Nhất là trong lĩnh vực ngân hàng, nhiều thương vụ sáp nhập, giá cổ phiếu và uy tín của cả 2 bên đều tăng lên một cách rõ rệt.

Không những thế, trong nhiều trường hợp, quy mô về vốn và năng lực sản xuất kinh doanh của DN cũng mạnh lên. Về năng lực cạnh tranh, sau khi sáp nhập cả bên bán và bên mua cũng cao hơn, thị phần lớn hơn và vận hành có hiệu quả hơn (như trường hợp giữa Kinh Đô và Nutifood).

Tuy nhiên trong một số hình thức M&A, hình thức bên mua muốn "nuốt" trọn thương hiệu cũng như hoạt động của bên bán thì thiệt hại thường nghiêng về bên bán.

Trong trường hợp này, thường bên mua muốn loại bỏ một đối thủ khỏi sân chơi như trường hợp Unilever mua lại thương hiệu kem đánh răng P/S của Công ty Phương Đông, với giá 5 triệu USD cho một thương hiệu cách đây hơn 10 năm, xem ra Phương Đông đã quá lời. Nhưng qua thời gian, không chỉ người đại diện của Phương Đông, ngay cả nhiều người tiêu dùng Việt Nam cũng tỏ ra tiếc nuối thương hiệu P/S.

Ở Việt Nam , hoạt động M&A có thể nói còn khá mới mẻ dù mỗi năm vẫn có hàng chục vụ và theo dự báo, từ nay đến cuối năm sẽ còn có nhiều vụ sáp nhập mới nữa. Tuy nhiên để hoạt động này góp phần tạo ra một kênh thu hút FDI, đồng thời giúp các DN tái cấu trúc bộ máy, tập trung tích tụ công nghệ và vốn nhanh rất cần tăng cường các giải pháp quản lý của nhà nước.

Kinh doanh nhượng quyền sẽ tăng 35%

Doanh thu của ngành kinh doanh nhượng quyền thương mại tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh trong các năm tới và dự báo sẽ đạt hơn 36 triệu đô la Mỹ (khoảng 642 tỉ đồng) vào năm 2010.

Doanh thu của ngành kinh doanh nhượng quyền thương mại tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh trong các năm tới và dự báo sẽ đạt hơn 36 triệu đô la Mỹ (khoảng 642 tỉ đồng) vào năm 2010.

Thông tin trên do Hiệp hội kinh doanh nhượng quyền Việt Nam và Trung tâm kinh doanh Hàn Quốc đưa ra tại ngày khai mạc Triển lãm quốc tế ngành công nghiệp cửa hàng và Triển lãm quốc tế nhượng quyền kinh doanh (VISIS và VIFS) tại Trung tâm Hội nghị và triển lãm Sài Gòn (SECC) hôm 10-9.

Hai tổ chức trên cho biết, năm 1996 doanh thu của kinh doanh nhượng quyền tại Việt Nam chỉ tăng 15%, đạt 1,5 triệu đô la Mỹ; 5 năm sau đã tăng 21% đạt hơn 3 triệu đô la Mỹ, và đến năm 2005 đã tăng 26%, đạt 9 triệu đô la Mỹ.

Theo dự báo của các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng của ngành kinh doanh nhượng quyền sẽ tiếp tục được duy trì và đạt doanh thu dự kiến là 36,68 triệu đô la Mỹ, với mức tăng trưởng 35% vào năm tới.

Ông Byung Gwan Bae, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty tổ chức hội nghị triển lãm Coex (Hàn Quốc) – phối hợp cùng với Công ty cổ phần Quảng cáo và Hội chợ thương mại Vinexad tổ chức hai triển lãm trên, cho rằng người tiêu dùng trẻ và năng động là một trong các yếu tố thúc đẩy ngành bán lẻ và nhượng quyền thương mại tại Việt Nam tăng mạnh.

Một chuyên gia trong lĩnh vực nhượng quyền là ông Lý Quí Trung, Tổng giám đốc Công ty Phở 24, giải thích với Thời báo Kinh tế Sài Gon Online rằng ngành kinh doanh này còn mới mẻ tại Việt Nam nên có thể dễ dàng đạt tốc độ tăng trưởng từ 25-30%/năm trong các năm sắp tới.

Theo thông tin của ban tổ chức, tính đến tháng 6-2008, Việt Nam có khoảng 890 cửa hàng hoạt động theo hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại, trong khi con số của năm 2007 chỉ là 700. Dự kiến, số lượng cửa hàng nhượng quyền năm 2010 sẽ tăng 50% so với năm 2008.

Lần đầu tiên được tổ chức tại khu vực Đông Nam Á, hai triển lãm VISIS và VIFS thu hút hơn 130 doanh nghiệp đến từ các nước Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam tham gia trưng bày các sản phẩm và dịch vụ liên quan tại 250 gian hàng. Ban tổ chức hy vọng hai triển lãm sẽ thu hút khoảng 20.000 khách tham quan, trong đó có hơn 2.000 khách đăng ký trực tuyến từ các nước như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Anh và Mỹ.

Theo chương trình, bên cạnh  triển lãm còn có các buổi hội thảo với chủ đề "Tác động của việc quản trị thông tin khách hàng lên chiến lược tiếp thị", "Bí quyết thành công tại thị trường Việt Nam" và "Thông tin cần biết cho hoạt động kinh doanh tại Việt Nam" sẽ diễn ra vào ngày 11-9.

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Đánh giá sản phẩm nhượng quyền

Ngoài thị trường, cạnh tranh ngày càng khốc liệt và lập nghiệp ngày càng gian truân, nên có rất nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít hiểm họa.

Kỹ năng cần thiết nhất khi mua nhượng quyền là biết cách đánh giá mức độ thành công của sản phẩm và cần tránh xa những sản phẩm nhượng quyền nào.

Thành công cũng có bí quyết, mà thất bại cũng để lại kinh nghiệm. Nắm rõ lý thuyết cơ bản để thực hành trôi chảy và đỡ tốn thời gian. Bài viết này liệt kê 5 cách đơn giản để kiểm tra độ nguy hiểm của một sản phẩm nhượng quyền.

1. Đếm số lượng sản phẩm. Đây là cách đơn giản nhất. Tìm xem sản phẩm nhượng quyền bạn sắp mua có mặt trên thị trường đang diễn biến thế nào? Đang đứng yên, tiến triển, tăng hay giảm? Nếu số lượng sản phẩm nhượng quyền giảm, dù bất cứ lý do nào, thì cũng là đèn đỏ cảnh báo nguy hiểm đừng nên "rớ" vào. Đừng dại đi mua về thứ người khác đang thải ra.

2. Kinh nghiệm kiện tụng, tranh chấp. Kiểm tra xem trong vài năm trở lại đây, có kiện tụng gì giữa bên bán và bên mua sản phẩm nhượng quyền. Kiện tụng thường xảy ra khi bên mua không thành công như mong đợi nên trút giận lên bên bán. Nếu có những vụ kiện lớn, hoặc nhiều vụ kiện liên tục, thì dù bất cứ lý do nào, đừng đụng đến sản phẩm nhượng quyền này.

3. Tình trạng tài chính của bên bán sản phẩm nhượng quyền. Công ty bán nhượng quyền có nghĩa vụ công khai những số liệu tài chính của mình trong ba năm gần nhất. Có hai điều bạn cần lưu ý khi xem báo cáo tài chính đó.

Một, tình trạng tài chính có ổn định và đủ để sống sót cho chặn đua dài trước mắt? Tìm chỉ số cho thấy doanh nghiệp đang làm ăn phát đạt, có lãi, lưu thông tiền tích cực, vốn dự trữ mạnh.

Hai, kiểm tra khoản thu của doanh nghiệp bán nhượng quyền vì hầu hết khoản thu của họ đến từ các doanh nghiệp mua nhượng quyền. Bảo đảm né xa trường hợp bên mua chật vật nên khó thanh toán cho bên bán.

4. Tình hình bán hàng của các tiệm mua nhượng quyền. Trong hệ thống nhượng quyền thì cả bên bán và bên mua đều tìm cách để tăng sức tiêu thụ của khách hàng, tăng đầu ra.

Nếu cả hai phía đều nỗ lực rồi mà đầu ra không tăng nhiều, thì có thể suy ra là doanh nghiệp phản ứng kém trước những biến động thị trường, hoặc chiến lược kinh doanh chưa đủ chuẩn. Chỉ với tiêu chí này mà loại doanh nghiệp nào đó ra khỏi danh sách đối tác mua sản phẩm nhượng quyền thì quá thẳng tay. Vậy nên, hãy tìm hiểu kỹ trước khi giao dịch.

5. Gọi điện đến những tiệm mua nhượng quyền. Cách tốt nhất để điều tra hoạt động nhượng quyền là gọi điện đột xuất hoặc ghé thăm những đơn vị mua sản phẩm nhượng quyền.

Bạn có thể hỏi thẳng người mua nhượng quyền cảm nhận về doanh nghiệp, tình hình kinh doanh vài năm trở lại đây. Nếu cho trở lại quyết định lần nữa thì họ có mua sản phẩm nhượng quyền này không?

Hãy tin vào trực giác và thông tin mình thu thập được.

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

Nhượng quyền thương mại ở Việt Nam tăng mạnh

Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Malayssia (MFA) đánh giá, thị trường nhượng quyền thương mại ở Việt Nam đang tăng nhanh chóng với mức doanh thu trung bình tăng 50%/năm và xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục cho đến năm 2012.

Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Malayssia (MFA) đánh giá, thị trường nhượng quyền thương mại ở Việt Nam đang tăng nhanh chóng với mức doanh thu trung bình tăng 50%/năm và xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục cho đến năm 2012.

MFA xác định Việt Nam là một thị trường chiến lược mới để các công ty Malaysia có thể đầu tư trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại.

Giám đốc điều hành MFA, Sofia Leong Abdullah ngày 6/10 cho biết, MFA sẽ làm việc với Cơ quan Phát triển Ngoại thương Malaysia (Matrade) và Công ty Phát triển nhượng quyền thương mại Malaysia (Perbadanan Nasional Bhd - PNS) để quảng bá thị trường đầu tư tiềm năng này đến các doanh nhân Malaysia.

Theo ông Sofia, lĩnh vực nhượng quyền thương mại đang có nhu cầu cao ở Việt Nam là bán lẻ (25%), đồ uống (20%), nhà hàng (16%), thời trang (9%) và giáo dục (5%).

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau:

Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Mười lý do không nên mua lại một franchise

Mua lại một doanh nghiệp khác với hình thức nhượng quyền sử dụng thương hiệu (franchise) là một trong những cách nhanh nhất để khởi nghiệp. Xu hướng này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, nếu vướng phải những điều sau đây thì nên cân nhắc việc trở thành một franchisee (người được nhượng quyền).

Mua lại một doanh nghiệp khác với hình thức nhượng quyền sử dụng thương hiệu (franchise) là một trong những cách nhanh nhất để khởi nghiệp. Xu hướng này đang ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, nếu vướng phải những điều sau đây thì nên cân nhắc việc trở thành một franchisee (người được nhượng quyền).

Không biết chắc khả năng sinh lợi

Đa số các doanh nghiệp chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu (franchiser) thường không cung cấp đầy đủ thông tin cho các franchisee về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mà các franchisee mua lại. Điều này làm cho các franchisee không đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư. Ngay cả khi các franchisee cung cấp thông tin về khả năng sinh lời của doanh nghiệp thì họ cũng chỉ cung cấp các số liệu không mấy hữu ích cho việc đánh giá hiệu quả thật sự của việc đầu tư.

Chi phí ban đầu quá cao

Trước khi mở ra một doanh nghiệp franchise, các franchisee thường trả một loại phí nhượng quyền ban đầu và nó không được hoàn lại. Ngoài loại phí này, có thể các franchisee còn phải mất nhiều loại phí khác để vận hành doanh nghiệp mới thành lập như mua sắm các máy móc, thiết bị, hàng trữ sẵn trong kho. Những chi phí đó có thể lên rất cao và doanh nghiệp franchise có khi phải mất mấy năm mới khấu hao hết.

Có quá nhiều franchisee khác ở gần địa bàn doanh nghiệp

Việc này thường rất xảy ra khi các franchiser bán lại quyền sử dụng nhãn hiệu của mình cho quá nhiều doanh nghiệp trong cùng một thị trường hẹp, chẳng hạn trên một con phố ngắn có quá nhiều tiệm McDonald's.

Quyền lợi của doanh nghiệp franchisee theo pháp luật không được bảo vệ

Khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu, các franchiser thường loại bỏ các quyền lợi mà lẽ ra các franchisee phải được hưởng theo luật pháp hiện hành của địa phương.

Bị hạn chế sự tự do

Khi mua lại một franchise, doanh nghiệp không chỉ mua lại quyền sử dụng tên, nhãn hiệu của franchise đó mà còn mua cả phương án kinh doanh. Kết quả là các franchiser thường áp đặt giá cả, cách bài trí, thiết kế lên các franchisee, làm hạn chế sự tự do của các franchisee trong việc vận hành doanh nghiệp. Tất nhiên những quy định này nhằm tạo ra bộ mặt nhất quán cho doanh nghiệp franchise, nhưng nó có thể kiềm hãm sự phát triển của những doanh nhân năng động, có khả năng vận hành doanh nghiệp franchise hiệu quả hơn nếu họ được làm theo cách riêng của mình.

Tiền sử dụng nhãn hiệu (royalty) quá cao

Các franchisee thường phải trả tiền sử dụng hàng tháng cho franchiser dựa trên một tỷ lệ phần trăm của doanh số bán. Số tiền này nếu quá cao sẽ làm giảm lợi nhuận của các franchisee.

Bị lệ thuộc vào các nguồn cung cấp

Trong nhiều trường hợp, các franchiser thường chỉ định các franchisee phải mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ của một số nhà cung cấp nào đó. Lý do mà họ đưa ra là nhằm đảm bảo chất lượng đồng nhất. Doanh nghiệp franchisee sẽ bị thiệt thòi nếu các nhà cung cấp vì lý do nào đó tăng giá bán quá cao.

Bị các hạn chế về cạnh tranh sau khi chấm dứt hợp đồng

Sau một số năm làm franchisee, các doanh nhân franchisee cảm thấy rằng họ có thể tự mở ra một doanh nghiệp tương tự và làm việc hiệu quả hơn (chất lượng cao hơn, giá cả thấp hơn), nhưng họ thường không được phép làm điều này vì đã bị khống chế trong các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu. Khi mua lại một franchise, các doanh nhân có thể tình tự hạn chế các cơ hội kinh doanh của mình trong nhiều năm sau khi kết thúc hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.

Chi phí quảng cáo quá nhiều

Nhiều franchisee buộc phải đóng góp thường xuyên vào ngân quỹ quảng cáo cho các franchiser, trong khi các franchiser được toàn quyền quyết định việc quản lý, sử dụng ngân quỹ này.

Điều kiện chấm dứt hợp đồng không công bằng

Khi franchisee có những vi phạm tuy nhỏ như đóng tiền royalty không đúng hạn hay vi phạm các trình tự, quy tắc hoạt động theo các chuẩn mực mà các franchiser đưa ra, các franchiser có thể chấm dứt ngay hợp đồng, làm cho doanh nhân là franchisee bị mất trắng khỏan tiền đầu tư của mình.